Các nước đang phát triển cũng tích cực nhờ tới cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để giải quyết các tranh chấp thương mại giữa họ với nhau và giải thích quy phạm của WTO. Ví dụ, các vụ kiện giữa Brazil và Philippines (về quy chế nhập khẩu dừa khô); Guatemala và Mexico (chống bán phá giá đối với xi măng); Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ (hàng dệt may); Indonesia và Argentina (quy chế phòng vệ thương mại đối với hàng giày dép); Argentina và Chile (các biện pháp phòng vệ liên quan đến sản phẩm nông nghiệp)… Việt Nam là một nước đang phát triển và đang chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, và nỗ lực đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) – tổ chức chiếm khoảng 90% giao dịch thương mại thế giới – vào cuối năm 2006. Để gia nhập WTO, Việt Nam phải nghiên cứu cơ cấu tổ chức, chức năng của tổ chức này, các hiệp định đa phương của WTO, những quyền lợi, nghĩa vụ, những ưu đãi mà Việt Nam phải gánh vác và được hưởng. Hơn thế nữa, Việt Nam phải tìm hiểu kỹ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để vận dụng nhằm giải quyết các tranh chấp khi nước ta trở thành viên của tổ chức này, đồng thời cũng chứng minh xem cơ chế giải quyết tranh chấp này có hiệu quả không, có đảm bảo khôi phục được quyền lợi của nước bị vi phạm hay không. Từ đó xem xét có nên đưa các tranh chấp ra giải quyết theo cơ chế của WTO hay không và cần phải làm gì khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp đó. Chính vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới đối với các nước đang phát triển và tìm ra những bài học đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung cần được quan tâm.