Tóm tắt

Đài Loan nằm trên tuyến đường giao thông quan trọng của khu vực Đông Á, các tập đoàn tài phiệt Mỹ đầu tư một lượng tiền lớn vào Đài Loan và do đó đã được hưởng những lợi ích đặc biệt, nên những nhà tài phiệt này luôn gây sức ép đối với Chính phủ Mỹ, phản đối việc Mỹ bỏ rơi chính quyền Quốc dân đảng. Mỹ gượng ở bảo hộ Đài Loan, đây cũng chính là ước mơ tha thiết của Tưởng Giới Thạch, thể hiện trong bức điện gửi vợ lúc giường sắp rời bỏ: nhờ Mỹ đưa ra hai điều kiện kèm theo khi cho nhà cầm quyền Đài Loan ngậm đắng nuốt cay trả giá cho sự “bảo hộ” đó: điều kiện thứ nhất là “Thuyết địa vị Đài Loan chưa xác định”, chỉ có như vậy Mỹ mới có thể dễ dàng ngăn chính quyền thuận phái Đài 7 vào eo biển Đài Loan với tính chất khống chế vĩnh viễn bởi Trung Quốc. Điều kiện kèm theo thứ hai là yêu cầu Đài Loan thừa nhận “trung lập hóa Đài Loan”. Nghĩa là một mặt ngăn cản Trung Quốc dùng vũ lực ở eo biển Đài Loan, mặt khác cũng yêu cầu Đài Loan chấm dứt tập kích Đại Lục, điều này chẳng khác nào đánh cấp giấc mơ “phản công Đại Lục” của cha con Tưởng. Trong bối cảnh chính trị rối ren, nền kinh tế Đài Loan vẫn có bước chuyển biến to lớn là một phần nhờ vào sự viện trợ ồ ạt của Mỹ, nhưng quan trọng hơn cả chính là hàng loạt cải cách mà Quốc dân đảng và cha con Tưởng Giới Thạch thi hành. Đầu tiên phải nói đến chính là “Cải cách ruộng đất”, chính quyền áp dụng phương thức “phòng lẫn đất công” về cơ bản giải quyết vấn đề “người cày có ruộng”, cải thiện đời sống của đại đa số người nông dân, xúc tiến nông nghiệp phát triển, tạo nên mông cho chấn hưng công nghiệp. Tiếp đến là nâng đỡ công thương nghiệp tư doanh, trong đó ngành dệt chiếm địa vị trụ cột, rồi đến chế độ phần phối định mức trước, cho tới điện dự trữ lại sau, từ đó khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân chuyển sang kinh doanh kiếm lời bằng tài sản tiền tệ, dẫn đến tiền gửi định kỳ ở ngân hàng tăng mạnh, nhờ vậy vừa giảm nhẹ áp lực thị trường, vừa tích lũy mở rộng tái sản xuất. Thông qua hàng loạt biện pháp này, cộng thêm viện trợ từ Mỹ lên đến hàng trăm triệu đô la, cải cách ruộng đất lại kích thích nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ liên quan như dệt, phân bón hóa học, máy nông nghiệp… phát triển, làm cho nền kinh tế Đài Loan khỏi phục toàn diện, tình trạng lạm phát cơ bản được xóa bỏ. Từ năm 1961 đến 1972, kinh tế Đài Loan phát triển ổn định ở mức cao, giai đoạn này được gọi là “thời đại hoàng kim” của phát triển tư bản tư doanh, làm nên cái gọi là “Thần kỳ Đài Loan”. Cùng với việc cải cách kinh tế là công cuộc “cải tạo” chính trị. Từ hoàn thiện hệ thống lâu đến dần giảm bớt các lệnh cấm hà khắc trong thời chiến như cấm đảng, cấm báo, cấm sách; hủy bỏ thể chế giới nghiêm, trẻ hóa bộ máy lãnh đạo đảng; phê bình hàng loạt tác phong phong kiến tham ô “bản thổ hóa” nhằm mở rộng để bản nhân sĩ gốc Đài Loan tham gia chính trị. Đài Loan dưới thời Tưởng Kinh Quốc đã có những chuyển biến vô cùng tích cực, “bánh xe đổi mới” bắt đầu chuyển động trên con đường “dân chủ hóa”. Thế lực Ngoại Đảng chính thức được phép thừa nhận, và đến tận hơn 30 năm, buộc Quốc dân đảng phải thừa nhận đảng đối lập và tổ chức “bắt tay” với giới nhân sĩ Đài Loan, khiến cho Đài Loan từ thể chế một Đảng lũng đoạn tiến tới đa nguyên cạnh tranh nhiều chính Đảng. Có thể nói hai nhiệm kỳ cuối “Vương triều Tưởng”, tình hình chính trị Đài Loan xảy ra hàng loạt biến đổi, từ hủy bỏ giới nghiêm, Đảng đối lập được hợp pháp hóa, quan hệ giữa hai bờ eo biển ấm dần lên, vấn đề “Tam thông” (tức thông đường hàng không, đường biển; thông thương buôn bán; thư từ, thông thương buôn bán); “Tứ lưu” (tức thăm viếng lẫn nhau; đầu tư về du lịch; trao đổi học thuật và trao đổi văn hóa ở thế thao) về cơ bản đã đột phá được phương châm “ba không” – “không tiếp xúc, không đàm phán, không thỏa hiệp” của nhà cầm quyền Đài Loan. Vậy nên năm 1987–1988, là dấu mốc lịch sử chính trị Đài Loan lật sang một trang mới; lịch sử Quốc dân đảng cũng đang lật sang một trang mới.