Tóm tắt

“Trang tử có địa vị rất lớn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, ngang với Mạnh tử, hơn Tuân tử, hơn cả Mặc tử nữa. Nhờ ông một phần lớn mà tư tưởng của Lão tử mới được phổ biến mạnh: chỉ giới trí thức mới quí những cách ngôn trong Đạo Đức kinh, còn giới bình dân thì ai cũng biết ít nhiều những ngụ ngôn của Trang tử. Tên ông gắn liền với tên của Lão tử và cả hai có công làm cho dân tộc Trung Hoa bớt thực tiễn, yêu thiên nhiên, tự do hơn, khoan dung hơn, khoáng đạt hơn… thơ văn cũng như hội hoạ từ Lục triều trở đi, nhất là dưới đời Tống đều mang dấu vết của Trang. Tác phẩm khá dày: trên 500 trang (riêng phần giới thiệu trên 300 trang). Và có thể coi là công trình đầy đủ nhất về Trang tử từ trước tới nay, tiếc là chưa in được” (Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn học, 1993, trang 537-538). Tuy bảo là “dịch tất cả các chương trong Nội thiên, Nội thiên, Tạp thiên, không bỏ một bài nào”, điều này cũng được nói đến trong lời giới thiệu ngắn ở đầu bộ Trang tử; nhưng vì trong Ngoại thiên và Tạp thiên có nhiều bài chép từ bộ Liệt tử và Dương tử (cụ gọi tắt là Liệt tử) mà cụ đã chú dịch và cho xuất bản trước 1975, nên các bài tương ứng trong bộ Trang tử này, cụ đã lược bỏ, không chép lại, như: Đạt sinh 3, Đạt sinh 9, Sơn mộc 9, Trí Bắc du 4, Từ Vô Quỉ 7, Ngụ ngôn 7, Nhượng vương 6. Ngược lại, có bài cụ không dịch trong Liệt tử lại được cụ dịch trong bộ Trang tử như truyện người say rượu té xe trong bài Đạt sinh 2, truyện luyện gà đá trong bài Đạt sinh 8... Như vậy, người đọc muốn đọc được các bài hoặc các đoạn bị lược bỏ trong bộ này thì phải tìm trong bộ kia và ngược lại. Cũng có bài, như bài Liệt Ngự Khấu 1, cụ đã dịch trong Liệt tử nhưng ở đây cụ “dịch lại để sửa vài chữ”...