Qua tác phẩm, tác giả giúp chúng ta tìm hiểu về toàn bộ lịch sử Trung Quốc, nhất là giai đoạn hiện đại, một cách đầy đủ hơn. Dựa vào những tài liệu tương đối mới (lúc đó – xem thư mục ở cuối sách), đặc biệt là tham khảo tác phẩm của các học giả, sử gia Tây phương và Trung Quốc, ông đã phác họa được một toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ thời huyền sử tới hiện đại, và tận đến năm 1982. Tác giả chia lịch sử Trung Quốc ra làm ba thời kỳ. Điều này khác hẳn với các sử gia khác khi nghiên cứu sử Trung Quốc. Đa số học giả phương Tây chia (mà một số sử gia Trung Hoa đã theo) lịch sử thế giới cũng như lịch sử Trung Quốc thành: thời Thượng cổ, Trung cổ, Cận cổ, Cận đại, Hiện đại. Theo tác giả, những danh từ trên chỉ mang màu sắc phương Tây và những khái niệm ấy cũng không thể áp dụng vào lịch sử Trung Hoa được, vì lịch sử Trung Hoa từ đời Hán cho tới cuối đời Thanh diễn tiến đều đều, không thay đổi gì nhiều như lịch sử phương Tây, không làm sao phân biệt được tới đâu là hết thời Trung cổ, tới đâu là hết thời Cận cổ, rồi Cận cổ với Cận đại khác nhau ra sao? Có lẽ quan niệm như vậy, tác giả chia lịch sử Trung Quốc ra làm ba thời kỳ: – Thời Nguyên thủy và thời Phong kiến gộp làm một (gọi là phần I), vì theo ông ngày nay chúng ta không biết được chắc chắn tới đâu bắt đầu thời phong kiến. – Thời Quân chủ từ nhà Hán tới Cách mạng Tân Hợi (1911). Đây là thời dài nhất trên 21 thế kỷ, thời này ông tách làm hai: Từ Hán tới Nam Tống (phần II) Từ Nguyên tới cuối Thanh (phần III) – Thời Dân chủ từ Cách mạng Tân Hợi (1911) tới ngày nay (1982) (phần IV) Một điểm độc đáo của bộ sách này, như trên đã nói, tác giả không những vẽ được dung mạo sử Trung Quốc mà còn đào sâu được bản chất của nền văn minh sử ấy. Dân tộc Trung Hoa là một dân tộc có một nền văn minh vô cùng độc đáo (infiniment originale). Tuy ra đời sau một vài nền văn minh khác nhưng tồn tại lâu nhất (cho tới ngày nay). Khoảng 3000 năm trước, họ đã có một tổ chức xã hội chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội… nhất là có một lối chữ viết tượng hình, và chính nhờ lối chữ viết này (chữ Hán) mà họ thống nhất được một đất nước bao la với hàng trăm dân tộc khác nhau. Và cũng chính nền văn minh ấy họ đã “Hoa hóa” được các nền văn minh khác, các tôn giáo khác, các học thuyết khác trở thành màu sắc Trung Hoa mà các nền văn minh khác không có được. Chính ở khía cạnh này, tác giả đã làm nổi bật được văn minh, sử Trung Quốc trong cộng đồng văn hóa, có ảnh hưởng ít nhiều đến nền văn hóa đậm nét Nho – Phật ở Đông Á. Điều đó được thấy rõ qua cách phân tích, đánh giá của tác giả đối với lịch sử Trung Quốc. Âu đó cũng là điều nổi bật trong gần 1000 trang in mà các bộ sử khác chưa nêu được. Và có lẽ nặng nề về khía cạnh “nhân văn” này mà tác giả phần nào làm loãng đi những chiến công của sử Trung Quốc. Độc giả khó tránh khỏi sẽ phiền sử gia họ Nguyên thiên vị?