Tóm tắt

Cuốn sách nhằm tìm hiểu mục đích, chính sách, chiến lược, tình trạng can dự của các nước Đông Bắc Á và tác động của nó đối với Tiểu vùng sông Mê Kông trong thời gian gần đây, đồng thời phân tích phản ứng chính sách của các nước Tiểu vùng sông Mê Kông trước những tác động từ các nước Đông Bắc Á, qua đó rút ra những căn cứ và gợi ý chính sách cho Việt Nam. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung cuốn sách được trình bày trong 3 chương: Chương 1. Các tác giả phân tích sự tác động tương hỗ giữa những nhân tố như cầu về nhân lực, thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, tài nguyên thiên nhiên và thị trường vốn - khoa học - công nghệ giữa Đông Bắc Á và Tiểu vùng sông Mê Kông; sự tham gia chủ động trong quá trình hội nhập quốc tế; những vấn đề xã hội và an ninh phi truyền thống ở khu vực (đặc biệt là an ninh nguồn nước của sông Mê Kông) thúc đẩy việc can dự của các nước Đông Bắc Á vào Tiểu vùng sông Mê Kông từ năm 2000 đến nay. Trên cơ sở phân tích đặc điểm của các nước Đông Bắc Á và Tiểu vùng sông Mê Kông về tiềm lực kinh tế, nhân lực, thị trường nhằm nâng cao ảnh hưởng và vị thế quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, an ninh, văn hóa - xã hội. Chương 2. Các tác giả tập trung phân tích quá trình hình thành, phát triển của các nước Đông Bắc Á vào Tiểu vùng sông Mê Kông ở những lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh, văn hóa – xã hội và môi trường sinh thái. Nhật Bản là một trong số những nước đầu tiên có những thế mạnh riêng, gây ảnh hưởng thông qua “quyền lực mềm” nhằm củng cố sự gắn kết hợp tác với các nước trong khu vực; thông qua hỗ trợ ODA, viện trợ không hoàn lại, đầu tư vào khu vực này; Trung Quốc tạo áp đảo về thương mại nhằm giành ảnh hưởng tại các quốc gia khu vực thông qua việc phổ biến đại ý “giấc mộng Trung Hoa” và sáng kiến hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông, tạo động lực phát triển kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông... Mặc dù Trung Quốc đang là nước đầu tư trực tiếp dẫn đầu về quy mô và nguồn vốn tại Tiểu vùng sông Mê Kông, nhưng điều này cũng đặt ra thách thức đối với các quốc gia trong khu vực, như sự lệ thuộc về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh… Bên cạnh đó, Hàn Quốc đang triển khai chiến lược hướng Nam mới với mục tiêu gia tăng ảnh hưởng trong khu vực này thông qua các chương trình viện trợ ODA, đầu tư trực tiếp, cam kết hỗ trợ, xây dựng hạ tầng giao thông, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế… Các nước Đông Bắc Á thông qua hợp tác đa phương, như Diễn đàn Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông - Nhật Bản, Tiểu vùng Mê Kông - Hàn Quốc, Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông - Trung Quốc nhằm đẩy mạnh giao lưu, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, giao thông, năng lượng, nông nghiệp, môi trường... với sự nổi bật của Trung Quốc kèm theo là làn sóng đầu tư đa dạng và quy mô ngày càng lớn (trong xây dựng nền tảng phát triển hạ tầng cơ sở, khu kinh tế, giao thông, đô thị, điều kiện kết nối kinh tế liên vùng). Nhật Bản và Hàn Quốc đóng vai trò cân bằng chiến lược với Trung Quốc, nắm các cơ hội đầu tư mới. Chương 3. Tập trung vào sự phản ứng của các nhân tố và gợi ý chính sách cho Việt Nam. Trên cơ sở phân tích tổng thể, các tác giả đi sâu phân tích hiệu tác động tích cực và tiêu cực từ sự can dự vào Tiểu vùng sông Mê Kông của các nước Đông Bắc Á. Một mặt, các nước Đông Bắc Á đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của Tiểu vùng sông Mê Kông; các nước này coi đây là khu vực tiềm năng, có vị trí địa chiến lược quan trọng, là thị trường xuất khẩu hàng hóa, đầu tư, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời là khu vực giao lưu văn hóa, chính trị, an ninh của châu Á. Mặt khác, Tiểu vùng sông Mê Kông cũng chịu những tác động tiêu cực như vấn đề môi trường, mất cân bằng sinh thái do khai thác nguồn tài nguyên quá mức, làm thay đổi dòng chảy, gây ảnh hưởng đến sinh kế người dân; sự phụ thuộc vào nguồn vốn và thị trường từ bên ngoài, tạo nên những bất ổn tiềm ẩn về chính trị, kinh tế, an ninh. Từ đó, cuốn sách đề xuất các nhóm giải pháp, gồm: (i) Nâng cao hiệu quả hợp tác song phương và đa phương giữa các nước Đông Bắc Á và Tiểu vùng sông Mê Kông; (ii) Thúc đẩy hợp tác phát triển bền vững, chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là an ninh nguồn nước; (iii) Xây dựng cơ chế hợp tác hài hòa, bình đẳng giữa các nước trong khu vực, gắn với các sáng kiến quốc tế về phát triển bền vững (như quản lý nguồn nước xuyên biên giới, bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng biến đổi khí hậu); (iv) Triển khai có hiệu quả chính sách đối ngoại đa phương (song phương, đa phương, tiểu vùng, khu vực và toàn cầu); (v) Gợi ý chính sách cho Việt Nam theo hướng chủ động hội nhập, mở rộng hợp tác, tận dụng cơ hội, giảm thiểu thách thức, nâng cao vị thế, bảo đảm phát triển bền vững và thịnh vượng