Tóm tắt

Đi kèm với quá trình toàn cầu hóa là vấn đề di cư lao động quốc tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại, tình trạng di cư lao động quốc tế lại phổ biến như hiện nay. Theo ước tính của ILO và IOM, hiện trên thế giới có gần 200 triệu người lao động di trú, chiếm 3% dân số toàn cầu, tính ra cứ 35 người dân và 26 người lao động trên thế giới thì có một người sống và làm việc ở ngoài đất nước mình. Di cư quốc tế vì việc làm là kết quả tất yếu và là một yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa về kinh tế. Nó mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế thế giới nói chung, nền kinh tế của nhiều quốc gia nói riêng, cũng như cho nhiều gia đình. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn những khó khăn, thách thức mà các Chính phủ và người lao động di trú phải đối mặt, đó là tình trạng người lao động bị phân biệt đối xử, bị bóc lột và thậm chí bị xâm phạm các quyền và lợi ích cơ bản cả ở nước gửi và nước nhận lao động. Để xác lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế công bằng cho việc di cư lao động quốc tế và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động di trú, Liên Hợp Quốc về di cư đã ban hành nhiều điều ước và văn kiện, trong đó quan trọng nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ và hai Công ước số 97 và số 143 của ILO. Dựa trên những điều ước quốc tế này, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã xây dựng những văn bản pháp luật có liên quan. Cuốn sách Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, bao gồm một số bài viết, công trình nghiên cứu của các giảng viên của Khoa Luật và một số chuyên gia bên ngoài về vấn đề này. Trong cuốn sách này, khái niệm “lao động di trú” và “lao động di cư” (migrant worker) cũng được các tác giả sử dụng để chỉ những người lao động ra nước ngoài làm việc theo Công ước của Liên Hợp Quốc về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ. Tương ứng với hai thuật ngữ này là các thuật ngữ “di trú lao động”, “di cư lao động” cũng được các tác giả sử dụng trong một số tình huống, song đều để chỉ hiện tượng ra nước ngoài làm việc của người lao động. Điều này có thể gây ra những tranh luận nhất định từ phía các độc giả, tuy nhiên, trong khi chưa tìm ra được một thuật ngữ được các tác giả thống nhất sử dụng chung, chúng tôi tạm dùng các thuật ngữ đã nêu.