Tóm tắt

Sự thay đổi của người đứng đầu Nhà Trắng vào năm 2017 đã đưa tới những thay đổi về chính sách đối ngoại của nước Mỹ, cũng như sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á. Nếu như trước đây, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được coi là khuôn khổ chiến lược chủ đạo trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, thì nay không gian chiến lược này đã được mở rộng sang cả khu vực Ấn Độ Dương, trong một tầm nhìn mới có tên gọi “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Câu hỏi đặt ra ở đây là: trong không gian chiến lược mới này, Đông Nam Á có còn quan trọng đối với Mỹ và thể hiện vai trò như thế nào trong chiến lược mới hay không? Liệu các thể chế khu vực như ASEAN, ARF có còn quan trọng đối với Mỹ hay chỉ là nhân tố phụ trong chiến lược này? Những câu hỏi này đang chờ đợi lời giải đáp thông qua việc hoạch định chính sách đối ngoại cho Đông Nam Á trong thời gian hiện nay. Để giúp bạn đọc có thêm tư liệu về vấn đề này, tháng 9/2022, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội đã phát hành cuốn sách Chính sách an ninh của Mỹ với Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Donald Trump (sách chuyên khảo) do TS. Phạm Cao Cường chủ biên. Cuốn sách là sản phẩm nghiên cứu của đề tài cấp Bộ Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung cuốn sách được trình bày thông qua các phần sau: Chương 1: Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động tới sự điều chỉnh chính sách an ninh của Mỹ với Đông Nam Á; Chương 2: Mục tiêu và sự triển khai chính sách an ninh của Mỹ với Đông Nam Á; Chương 3: Dự báo xu hướng chính sách an ninh của Mỹ với Đông Nam Á và một số hàm ý cho Việt Nam Theo đó, nhóm tác giả cho biết: một trong những chuyển biến về khu vực chiến lược dưới thời Tổng thống Donald Trump đó chính là việc thực thi chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Với tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á, Quốc hội Mỹ đã rất quan tâm tới việc xây dựng một chiến lược đối với khu vực Đông Nam Á đặt trong tổng thể chiến lược của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Chính vì vậy, trong thời gian qua, Quốc hội Mỹ đã thông qua nhiều đạo luật, nghị quyết liên quan tới khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – ASEAN cũng là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á. Trên cơ sở đó, Mỹ đã triển khai chính sách an ninh của mình đối với Đông Nam Á thông qua khuôn khổ hợp tác của ASEAN, bao gồm: thúc đẩy ASEAN là trung tâm; tăng cường tập trận khu vực; hỗ trợ an ninh cho các nước; thúc đẩy bảo đảm an ninh phi truyền thống; xây dựng một trật tự khu vực dựa trên các luật lệ; kiềm chế Trung Quốc tại Đông Nam Á. Trong quan hệ song phương, Mỹ thúc đẩy quan hệ, hợp tác an ninh với các quốc gia thành viên ASEAN điển hình như Thái Lan, Singapore, Philippines và Indonesia. Sự hợp tác này nhằm triển khai chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tại Đông Nam Á và việc trao đổi các chuyến thăm, hỗ trợ quân sự, đào tạo quốc phòng, tập trận quân sự, cung cấp các loại vũ khí thông qua chương trình giáo dục và đào tạo quân sự quốc tế (IMET) để sử dụng trong năm tài chính 2019–2020. Thông qua đánh giá chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á, nhóm tác giả cho rằng chính quyền Mỹ xác định tầm quan trọng của ASEAN trong việc xây dựng cấu trúc khu vực. Mỹ coi Đông Nam Á là nhân tố quan trọng của khu vực. Tuy nhiên, chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á không nhất quán, thiếu chiến lược dài hạn và có phần thiên lệch về Trung Quốc. Nhiều ý kiến chỉ trích rằng chính quyền Trump không quan tâm đến Đông Nam Á do liên tiếp không tham dự hội nghị cấp cao khu vực; việc Mỹ quá chú trọng vào nhân tố Trung Quốc khiến các vấn đề an ninh khác của khu vực Đông Nam Á bị xem nhẹ, từ đó làm giảm sự quan tâm nhất định của Mỹ tại khu vực. Về mặt tổng thể, mục tiêu trong chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á khó có thể không gắn với lịch sử quan hệ giữa Mỹ với Đông Nam Á cho tới nay, đặc biệt là với sự thay đổi lớn trong khu vực này về mặt đối ngoại và an ninh. Mỹ luôn tìm cách hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác an ninh để duy trì vai trò và ảnh hưởng của mình. Mỹ tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác quốc phòng thông qua các cuộc đối thoại cấp cao, các chuyến thăm, đào tạo, nâng cao năng lực và hợp tác thiết thực khác thông qua các khuôn khổ an ninh khu vực như thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa, an ninh hàng hải, chống khủng bố, gìn giữ hòa bình, và khắc phục bom mìn nhân đạo và an ninh mạng đã được triển khai tích cực trong thời gian qua. Để thúc đẩy lợi ích của Việt Nam trong bối cảnh Mỹ triển khai chiến lược an ninh mới đối với khu vực, nhóm tác giả cho biết Việt Nam cần phải định vị tốt hơn quan hệ với Mỹ trên nhiều khía cạnh. Về tư duy chiến lược, Mỹ là một cường quốc kinh tế, là trụ cột của an ninh quốc tế. Do đó, cần duy trì quan hệ với Mỹ, cần phải xác định lợi ích song trùng trong quan hệ song phương của hai bên, về cơ bản lợi ích quốc gia là sự giao thoa của các lợi ích kinh tế, chính trị, quân sự. Để có sự hợp tác chặt chẽ, hai bên cũng cần coi lợi ích chung của cả hai bên là thành phần cần thiết để duy trì hòa bình dài hạn. Về hợp tác an ninh – quân sự, mặc dù đã đạt được những bước tiến nhất định nhưng so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu trong hợp tác quốc phòng với Mỹ. Do đó, Việt Nam cần mở rộng hơn nữa các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là đào tạo nghiệp vụ cho các sĩ quan Việt Nam, tăng cường hợp tác trong chống khủng bố, cướp biển, an ninh mạng, an ninh hàng không và an ninh hàng hải; cần đẩy mạnh hợp tác đa phương trong thời gian tới. Có thể nói, cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc.